Trong lĩnh vực sản xuất có rất nhiều các phương thức sản xuất khác nhau. Trong bài biết này, cơ khí TNT Tech sẽ giới thiệu với các bạn một số phương thức căn bản mà chúng ta thường gặp. Dù là phương thức sản xuất nào đi chăng nữa, thì mục đích cuối cùng đều hướng tới giảm được chi phí, giảm tồn kho và giảm rủi ro trong hoạt động sản xuất.
Sản xuất dự đoán: Thích hợp với những sản phẩm mất nhiều thời gian sản xuất
Trong lĩnh vực sản xuất, về lý tưởng, khi khách hàng mong muốn một sản phẩm, chúng ta sẽ sản xuất ngay và bán cho họ. Là một người mua hàng, chúng ta thường không muốn chờ đợi. Tôi và bạn đều hiểu cảm giác này đúng không?
Tuy nhiên, thông thường thời gian sản xuất một sản phẩm lúc nào cũng lớn hơn thời gian mà khách hàng có thể đợi để mua sản phẩm đó.
Do đó, nhà sản xuất phải tự dự đoán trước nhu cầu của khách hàng, sản xuất rồi giao ngay cho khách hàng khi họ muốn. Đây chính là phương thức sản xuất dự đoán (Make to Stock).
Đây là một phương thức sản xuất khá thông dụng. Tất cả những sản phẩm đang xếp trên kệ tại các cửa hàng đều được sản xuất theo phương thức này.
Từ chiếc tăm nhỏ bé, đến chiếc điện thoại hay chiếc tivi chúng ta vẫn sử dụng hàng ngày.
Đối với sản xuất dự đoán, việc luôn có tồn kho sản phẩm là điều đương nhiên. Người quản lý sản xuất cần dự đoán được nhu cầu của khách hàng để lên kế hoạch sản xuất sao cho không để tồn kho quá lớn cũng không để tình trạng hết hàng.
Do phải sản xuất trước khi bán nên phương thức luôn có rủi ro trong đó. Rủi ro lớn nhất là trong trường hợp chúng ta không bán được hàng. Ngược lại, nếu sản phẩm được bán tốt trên thị trường thì phương thức này lại mang lại một ưu điểm là chúng ta có thể tiết kiệm chi phí sản xuất do có thể sản xuất hàng loạt.

Sản xuất theo đơn hàng thiết kế riêng: Sản xuất theo yêu cầu của khách hàng.
Ngược với sản xuất dự đoán, có một phương thức sẽ sản xuất sản phẩm theo yêu cầu của khách hàng. Phương thức này gọi là sản xuất theo đơn hàng thiết kế riêng (Engineering to Order).
Với phương thức này, trước khi sản xuất, chúng ta sẽ thống nhất kích thước, tính năng của sản phẩm với khách hàng. Sau đó mới thiết kế, mua nguyên vật liệu và tiến hành sản xuất.
Chính vì phải trải qua rất nhiều khâu như trên nên thời gian sản xuất (Lead time: thời gian tính từ lúc thiết kế tới khi hoàn thành sản phẩm giao cho khách hàng) thường rất dài.
Đương nhiên, cũng vì thời gian sản xuất dài nên thời gian giao hàng cũng khá lâu. Phương thức sản xuất này thường áp dụng với các sản phẩm có giá trị cao.
Ví dụ, ở Nhật Bản ô tô chỉ được sản xuất khi có đơn hàng từ khách hàng. Hay ngôi nhà chúng ta ở cũng thường được xây sau khi đã thống nhất về thiết kế và giá cả. Trong trường hợp nhà chung cư thì lại được xây theo phương thức sản xuất dự đoán, các công ty Bất động sản sẽ xây trước rồi bán sau.
Các phương thức sản xuất khác
- Sản xuất lắp ráp theo đơn hàng (Assemble to Order):
Phương thức này chỉ thực hiện khâu lắp ráp cuối cùng theo đơn hàng. Đối với chi tiết, cụm chi tiết dùng trong lắp ráp thành phẩm sẽ được dự đoán và sản xuất trước.
Ví dụ: chúng ta sẽ sản xuất sẵn khung và bánh xe. Khi đơn hàng vào sẽ rắp và giao hàng ngay. Cách này giúp chúng ta rút ngắn được thời gian giao hàng.
- Sản xuất theo đơn hàng (Build to Order):
Là phương thức sản xuất sau khi nhận đơn hàng từ khách hàng mới bắt đầu mua chi tiết. nguyên vật liệu về lắp ráp thành sản phẩm. Phương thức này không bắt đầu từ bước thiết kế. Sản phẩm đã được thiết kế sẵn chỉ chờ đơn hàng là sản xuất.

Điểm tách nối (Decoupling Point)
- Điểm tách nối chính là phương pháp suy nghĩ trên cơ sở “Đối với một đơn hàng, sản phẩm sẽ lưu kho ở thời điểm nào hay trạng thái nào”.
- Điểm tách nối là điểm xác định hình thái (thời điểm, trạng thái) giao sản phẩm cho khách hàng.
- Trong sản xuất dự đoán, thì điểm tách nối sẽ nằm ở trạng thái “thành phẩm” (đã lưu sẵn trong kho). Tức là chúng ta luôn sẵn sàng giao ngay cho khách hàng khi họ có nhu cầu.
- Ngược lại, đối phương thức sản xuất theo đơn hàng thiết kế riêng thì điểm tách nối sẽ nằm ở “giai đoạn thiết kế”. Đây là giai đoạn mà khách hàng đã quyết định toàn bộ tính năng cũng như thiết kế của sản phẩm, tức là đã quyết định trạng thái sản phẩm sau sản xuất.
- Các bạn có thể tham khảo hình dưới để thấy điểm tách nối khác nhau giữa các phương thức sản xuất.
ETO, MTO, ATO, MTS – Các chiến lược sản xuất khác biệt
Lựa chọn giữa ETO, MTO, ATO và MTS phụ thuộc vào tính chất sản phẩm và nhu cầu tiêu thụ. Ví dụ, các nhà sản xuất nước giải khát sẽ cần chiến lược khác so với các nhà sản xuất ô tô. Mỗi chiến lược có ưu và nhược điểm riêng, nên việc lựa chọn chiến lược phù hợp sẽ giúp tối ưu hoá quy trình và gia tăng hiệu quả sản xuất.
Sản xuất Đẩy và Kéo – Nền tảng của ETO, MTO, ATO, MTS
- Trước khi đi sâu vào từng chiến lược, cần hiểu về sản xuất Đẩy (Push) và Kéo (Pull), là hai phương pháp nền tảng:
- Sản xuất Đẩy (Push Manufacturing): Dựa trên dự báo nhu cầu, công ty sản xuất trước để lưu kho và cung cấp khi cần, thường phù hợp với sản phẩm có nhu cầu ổn định như thực phẩm, dược phẩm, và hàng gia dụng.
- Sản xuất Kéo (Pull Manufacturing): Liên kết trực tiếp với nhu cầu thực tế của khách hàng, sản xuất khi có đơn hàng. Ví dụ, hệ thống sản xuất Just-In-Time (JIT) là một ví dụ điển hình.
Tìm hiểu từng chiến lược sản xuất
-
ETO (Engineer to Order): Sản phẩm được thiết kế và sản xuất dựa trên yêu cầu cụ thể từ khách hàng, phù hợp với sản phẩm có độ tùy chỉnh cao.
-
MTO (Make to Order): Sản xuất sau khi nhận đơn hàng, giảm thiểu tồn kho nhưng yêu cầu thời gian sản xuất nhanh chóng để đáp ứng nhu cầu.
-
ATO (Assemble to Order): Sản xuất các bộ phận trước và lắp ráp khi có đơn hàng, đáp ứng nhu cầu linh hoạt mà vẫn duy trì thời gian giao hàng ngắn.
-
MTS (Make to Stock): Sản xuất trước và lưu kho, đảm bảo luôn có sẵn sản phẩm để đáp ứng nhanh chóng nhưng đòi hỏi dự báo nhu cầu chính xác để tránh dư thừa.
-
Doanh nghiệp có thể linh hoạt chọn một hoặc kết hợp các chiến lược để quản lý sản xuất tối ưu, tùy theo nhu cầu và đặc tính sản phẩm.
Định nghĩa & Phân loại
MTS: Make To Stock – Sản Xuất Để Tồn Kho
- Phương pháp sản xuất dựa trên những dự báo doanh số và / hoặc nhu cầu lịch sử.
- Mục đích: dự trữ hàng hóa trong kho cho những dịp đặc biệt, những mặt hàng có nhu cầu tăng đột biến hoặc những sản phẩm tiêu dùng nhanh, thời quay vòng của sản phẩm cao.
- MTS có lợi thế khi tách rời các quy trình sản xuất từ các đơn đặt hàng của khách hàng. Về mặt lý thuyết, điều này cho phép các đơn đặt hàng của khách hàng được lấp đầy ngay lập tức từ kho có sẵn. Nó cũng cho phép nhà sản xuất tổ chức sản xuất theo cách giảm thiểu thay đổi tốn kém và các gián đoạn khác.
- Rủi ro cao trong việc đặt hàng hóa thành phẩm vào hàng tồn kho mà không có nhu cầu hoặc đơn đặt hàng từ khách. Những rủi ro này có xu hướng giới hạn môi trường MTS đối với các sản phẩm đơn giản, đa dạng hoặc hàng hóa thấp mà nhu cầu có thể được dự báo dễ dàng.
- Các sản phẩm theo dạng MTS thường có giá bán rẻ và là nhu cầu thiết yếu cho cuộc sống như kem đánh răng, thức uống đóng chai, dầu gội, sữa tắm…

MTO: Make To Order – Sản Xuất Theo Đơn Đặt Hàng
- Các sản phẩm được sản xuất sau khi nhận được đơn đặt hàng của khách hàng. Sản phẩm cuối cùng thường là sự kết hợp của các mặt hàng được tiêu chuẩn hóa và tùy chỉnh để đáp ứng nhu cầu cụ thể của khách hàng.
- Môi trường MTO phổ biến hơn khi khách hàng sẵn sàng chờ đợi để có được một sản phẩm với các tính năng độc đáo, các sản phẩm thường được tùy biến hoặc kỹ thuật cao.
- Môi trường MTO chậm hơn để đáp ứng nhu cầu so với môi trường MTS và ATO, vì thời gian là cần thiết để làm cho các sản phẩm từ đầu. Cũng có ít rủi ro hơn liên quan đến việc xây dựng một sản phẩm khi có một đơn đặt hàng của khách hàng chắc chắn.
- Đa số các sản phẩm MTO đều mang giá trị cao, thời gian làm ra sản phẩm dài hơn, sản phẩm có thể bị lỗi thời theo thời gian. Ví dụ như máy móc thiết bị,…
ATO: Assemble To Order – Lắp Ráp Theo Đơn Hàng
- Sản xuất các bán thành phẩm trước cho đến khi có đơn đặt hàng mới tiến hành lắp ráp (điều này sẽ giúp doanh nghiệp tối ưu hóa chi phí tồn kho).
- Ở phương pháp này, các sản phẩm được lắp ráp từ các thành phần sau khi nhận được đơn đặt hàng của khách hàng. Các thành phần chính trong quá trình lắp ráp hoặc hoàn thiện được lên kế hoạch và dự trữ trong đơn đặt hàng của khách hàng. Biên nhận đơn đặt hàng bắt đầu lắp ráp sản phẩm tùy chỉnh.
- Chiến lược này rất hữu ích khi một số lượng lớn các sản phẩm cuối cùng dựa trên việc lựa chọn các tùy chọn và phụ kiện có thể được lắp ráp từ các thành phần phổ biến.
- Khi các sản phẩm quá phức tạp hoặc nhu cầu của khách hàng không thể dự đoán được, các nhà sản xuất có thể chọn giữ các sản phẩm phụ hoặc sản phẩm ở trạng thái bán thành phẩm. Hoạt động lắp ráp cuối cùng sau đó được tổ chức cho đến khi nhận được đơn đặt hàng của khách hàng.
- Trong môi trường này, về mặt lý thuyết, các nhà sản xuất không thể giao sản phẩm cho khách hàng nhanh như môi trường MTS, vì cần thêm thời gian để hoàn thành việc lắp ráp cuối cùng. Những sản phẩm phù hợp để sản xuất theo mô hình này là những mặt hàng như máy tính, xe hơi, đồ nội thất…

CTO: Configure To Order – Cấu hình Theo Đơn Hàng
- CTO là một biến thể của phương pháp MTO (sản xuất theo đơn đặt hàng), trong đó việc cấu hình sản phẩm chỉ bắt đầu sau khi nhận được đơn đặt hàng của khách hàng. Tiêu chuẩn sản phẩm sẽ được xác định trước.
- CTO cho phép khách hàng của mình định cấu hình thành phẩm mà họ định mua. Thông thường, doanh nghiệp sẽ cung cấp nhiều lựa chọn cho khách hàng của mình từ đó họ có thể chọn các tùy chọn tốt nhất phù hợp với họ.
- Những sản phẩm phù hợp để sản xuất theo mô hình này là những mặt hàng có thể tùy biến theo yêu cầu của khách hàng với giá trị không quá cao ví dụ như đồ nội thất, thực phẩm, …

Eto và ứng dụng
MTO: Make To Order – Sản Xuất Theo Đơn Đặt Hàng
- Các sản phẩm được sản xuất sau khi nhận được đơn đặt hàng của khách hàng. Sản phẩm cuối cùng thường là sự kết hợp của các mặt hàng được tiêu chuẩn hóa và tùy chỉnh để đáp ứng nhu cầu cụ thể của khách hàng.
- Môi trường MTO phổ biến hơn khi khách hàng sẵn sàng chờ đợi để có được một sản phẩm với các tính năng độc đáo, các sản phẩm thường được tùy biến hoặc kỹ thuật cao.
- Môi trường MTO chậm hơn để đáp ứng nhu cầu so với môi trường MTS và ATO, vì thời gian là cần thiết để làm cho các sản phẩm từ đầu. Cũng có ít rủi ro hơn liên quan đến việc xây dựng một sản phẩm khi có một đơn đặt hàng của khách hàng chắc chắn.
- Đa số các sản phẩm MTO đều mang giá trị cao, thời gian làm ra sản phẩm dài hơn, sản phẩm có thể bị lỗi thời theo thời gian. Ví dụ như máy móc thiết bị,…
MTS: Make To Stock – Sản Xuất Để Tồn Kho
- Phương pháp sản xuất dựa trên những dự báo doanh số và / hoặc nhu cầu lịch sử.
- Mục đích: dự trữ hàng hóa trong kho cho những dịp đặc biệt, những mặt hàng có nhu cầu tăng đột biến hoặc những sản phẩm tiêu dùng nhanh, thời quay vòng của sản phẩm cao.
- MTS có lợi thế khi tách rời các quy trình sản xuất từ các đơn đặt hàng của khách hàng. Về mặt lý thuyết, điều này cho phép các đơn đặt hàng của khách hàng được lấp đầy ngay lập tức từ kho có sẵn. Nó cũng cho phép nhà sản xuất tổ chức sản xuất theo cách giảm thiểu thay đổi tốn kém và các gián đoạn khác.
- Rủi ro cao trong việc đặt hàng hóa thành phẩm vào hàng tồn kho mà không có nhu cầu hoặc đơn đặt hàng từ khách. Những rủi ro này có xu hướng giới hạn môi trường MTS đối với các sản phẩm đơn giản, đa dạng hoặc hàng hóa thấp mà nhu cầu có thể được dự báo dễ dàng.
- Các sản phẩm theo dạng MTS thường có giá bán rẻ và là nhu cầu thiết yếu cho cuộc sống như kem đánh răng, thức uống đóng chai, dầu gội, sữa tắm…

.Ứng dụng của MTS trong lĩnh vực sản xuất:
Quản lý kho hiệu quả là một yếu tố quan trọng trong việc áp dụng phương pháp sản xuất Make-to-Stock (MTS). Dưới đây là một số cách để quản lý kho hiệu quả khi sử dụng MTS:
-
Dự báo cung cầu chính xác: Để tránh tình trạng thiếu hụt hoặc thừa số lượng hàng tồn kho, cần có một quy trình dự báo cung cầu chính xác. Sử dụng dữ liệu lịch sử bán hàng và các phương pháp dự báo để ước lượng nhu cầu hàng hóa một cách hiệu quả.
-
Quản lý tồn kho theo chu kỳ: Thiết lập lịch trình quản lý tồn kho chặt chẽ, bao gồm việc kiểm tra, cập nhật và điều chỉnh tồn kho theo chu kỳ nhất định. Điều này giúp duy trì lượng hàng tồn kho ở mức đủ, tránh lãng phí và tăng tính hiệu quả.
Ứng dụng các phương pháp quản lý tồn kho: Sử dụng các phương pháp như Just-in-Time (JIT) và Kanban để giảm lượng hàng tồn kho, tối ưu hóa quy trình sản xuất và giảm chi phí lưu trữ. Những phương pháp này giúp doanh nghiệp linh hoạt hơn trong việc quản lý hàng tồn kho.
-
Tối ưu hóa vị trí lưu trữ: Xác định vị trí lưu trữ hiệu quả dựa trên tần suất xuất nhập hàng, kích thước sản phẩm và các yếu tố khác. Việc tối ưu hóa không gian lưu trữ không chỉ tiết kiệm chi phí mà còn tăng cường hiệu suất công việc.
-
Liên kết với quá trình sản xuất: Đảm bảo sự liên kết chặt chẽ giữa quản lý tồn kho và quy trình sản xuất. Điều này giúp sản phẩm được sản xuất đúng số lượng và thời điểm để đáp ứng nhu cầu của khách hàng một cách nhanh chóng và hiệu quả.
ATO: Assemble To Order – Lắp Ráp Theo Đơn Hàng
- Sản xuất các bán thành phẩm trước cho đến khi có đơn đặt hàng mới tiến hành lắp ráp (điều này sẽ giúp doanh nghiệp tối ưu hóa chi phí tồn kho).
- Ở phương pháp này, các sản phẩm được lắp ráp từ các thành phần sau khi nhận được đơn đặt hàng của khách hàng. Các thành phần chính trong quá trình lắp ráp hoặc hoàn thiện được lên kế hoạch và dự trữ trong đơn đặt hàng của khách hàng. Biên nhận đơn đặt hàng bắt đầu lắp ráp sản phẩm tùy chỉnh.
- Chiến lược này rất hữu ích khi một số lượng lớn các sản phẩm cuối cùng dựa trên việc lựa chọn các tùy chọn và phụ kiện có thể được lắp ráp từ các thành phần phổ biến.
- Khi các sản phẩm quá phức tạp hoặc nhu cầu của khách hàng không thể dự đoán được, các nhà sản xuất có thể chọn giữ các sản phẩm phụ hoặc sản phẩm ở trạng thái bán thành phẩm. Hoạt động lắp ráp cuối cùng sau đó được tổ chức cho đến khi nhận được đơn đặt hàng của khách hàng.
- Trong môi trường này, về mặt lý thuyết, các nhà sản xuất không thể giao sản phẩm cho khách hàng nhanh như môi trường MTS, vì cần thêm thời gian để hoàn thành việc lắp ráp cuối cùng. Những sản phẩm phù hợp để sản xuất theo mô hình này là những mặt hàng như máy tính, cơ khí, xe hơi, đồ nội thất…
Đầu tư phát triển
- Chi phí kỹ thuật cho một sản phẩm MTS là khoản đầu tư 1 lần vì doanh nghiệp sản xuất hàng loạt các sản phẩm có đặc tính như nhau và không có sự tùy biến cho các sản phẩm.
- Trong khi đó chi phí kỹ thuật luôn phát sinh mỗi khi ETO được thực hiện vì khách hàng yêu cầu những tùy biến riêng biệt và hầu như là độc nhất đối với mỗi đơn hàng.
- Đối với các sản phẩm ATO và CTO, chi phí cũng được thực hiện như một khoản đầu tư trực tiếp vì khả năng tùy biến ở hai phương pháp này không cao như ETO
